Hiển thị các bài đăng có nhãn ☞ Bệnh và nguyên nhân gây bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ☞ Bệnh và nguyên nhân gây bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

Hội chứng cổ vai cánh tay (cervical scapulohumeral syndrome)

http://bacsinoitru.vn/

Hội chứng cổ vai cánh tay (cervical scapulohumeral syndrome), còn gọi là hội chứng vai cánh tay (scapulohumeral syndrome) hay bệnh lý rễ tủy cổ (cervical radiculopathy), là một nhóm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến các bệnh lý cột sống cổ có kèm theo các rối loạn chức năng rễ, dây thần kinh cột sống cổ và/hoặc tủy cổ, không liên quan tới bệnh lý viêm.
HỘI CHỨNG CỔ VAI CÁNH TAY 
(CERVICAL SCAPULOHUMERAL SYNDROME)

1. ĐẠI CƯƠNG

- Hội chứng cổ vai cánh tay (cervical scapulohumeral syndrome), còn gọi là hội chứng vai cánh tay (scapulohumeral syndrome) hay bệnh lý rễ tủy cổ (cervical radiculopathy), là một nhóm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến các bệnh lý cột sống cổ có kèm theo các rối loạn chức năng rễ, dây thần kinh cột sống cổ và/hoặc tủy cổ, không liên quan tới bệnh lý viêm.

- Biểu hiện lâm sàng thường gặp là đau vùng cổ, vai và một bên tay, kèm theo một số rối loạn cảm giác và/hoặc vận động tại vùng chi phối của rễ dây thần kinh cột sống cổ bị ảnh hưởng.

2. NGUYÊN NHÂN

- Nguyên nhân thường gặp nhất (70-80%) là do thoái hóa cột sống cổ, thoái hóa các khớp liên đốt và liên mỏm bên làm hẹp lỗ tiếp hợp, hậu quả là gây chèn ép rễ/dây thần kinh cột sống cổ tại các lỗ tiếp hợp.

- Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ (20-25%), đơn thuần hoặc phối hợp với thoái hóa cột sống cổ

- Các nguyên nhân ít gặp khác gồm chấn thương, khối u, nhiễm trùng, loãng xương, bệnh lý viêm cột sống, bệnh lý phần mềm cạnh cột sống.

- Trong một số trường hợp hội chứng cổ vai cánh tay là do bản thân bệnh lý của cột sống cổ gây đau cổ và lan ra vai hoặc tay, mà không có bệnh lý rễ dây thần kinh cổ.

3. CHẨN ĐOÁN

3.1. Chẩn đoán xác định

a) Lâm sàng: Tùy thuộc nguyên nhân, mức độ và giai đoạn bệnh, bệnh nhân có thể có ít nhiều những triệu chứng và hội chứng sau đây:

- Hội chứng cột sống cổ
+ Đau vùng cổ gáy, có thể khởi phát cấp tính sau chấn thương, sau động tác vận động cổ quá mức, hoặc tự nhiên như sau khi ngủ dậy. Đau cũng có thể xuất hiện từ từ, âm ỉ, mạn tính.
+ Hạn chế vận động cột sống cổ, có thể kèm theo dấu hiệu vẹo cổ, hay gặp trong đau cột sống cổ cấp tính
+ Điểm đau cột sống cổ khi ấn vào các gai sau, cạnh cột sống cổ tương ứng các rễ thần kinh.

- Hội chứng rễ thần kinh
+ Đau vùng gáy lan lên vùng chẩm và xuống vai hoặc cánh tay, bàn tay, biểu hiện lâm sàng là hội chứng vai gáy, hoặc hội chứng vai cánh tay. Đau thường tăng lên khi xoay đầu hoặc gập cổ về phía bên đau.
+ Rối loạn vận động, cảm giác kiểu rễ: Yếu cơ và rối loạn cảm giác như rát bỏng, kiến bò, tê bì ở vùng vai, cánh tay, hoặc ở bàn tay và các ngón tay.
+ Một số nghiệm pháp đánh giá tổn thương rễ thần kinh cổ:

Dấu hiệu chuông bấm: Ấn điểm cạnh sống tương ứng với lỗ tiếp hợp thấy đau xuất hiện từ cổ lan xuống vai và cánh tay.
Nghiệm pháp Spurling: Bệnh nhân ngồi hoặc nằm nghiêng đầu về bên đau, thầy thuốc dùng tay ép lên đỉnh đầu bệnh nhân, làm cho đau tăng lên.
Nghiệm pháp dạng vai: Bệnh nhân ngồi, cánh tay bên đau đưa lên trên đầu và ra sau, các triệu chứng rễ giảm hoặc mất.
Nghiệm pháp kéo giãn cổ: Bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc dùng tay giữ chẩm và cằm và kéo từ từ theo trục dọc, làm giảm triệu chứng.


Nghiệm pháp Spurling: Bệnh nhân ngồi hoặc nằm nghiêng đầu về bên đau, thầy thuốc dùng tay ép lên đỉnh đầu bệnh nhân, làm cho đau tăng lên. (Ảnh: uptodate.com)

- Hội chứng tủy cổ
+ Do lồi hoặc thoát vị đĩa đệm gây chèn ép tuỷ cổ tiến triển trong một thời gian dài.
+ Biểu hiện sớm là dấu hiệu tê bì và mất khéo léo hai bàn tay, teo cơ hai tay, đi lại khó khăn, nhanh mỏi. Giai đoạn muộn tùy vị trí tổn thương có thể thấy liệt trung ương tứ chi; liệt ngoại vi hai tay và liệt trung ương hai chân; rối loạn phản xạ đại tiểu tiện.

- Các triệu chứng khác
+ Hội chứng động mạch sống nền: Đau đầu vùng chẩm, chóng mặt, ù tai, mờ mắt, đôi khi có giảm thị lực thoáng qua, mất thăng bằng, mệt mỏi.
+ Có thể có các rối loạn thần kinh thực vật: Đau kèm theo ù tai, rối loạn thị lực, rối loạn vận mạch vùng chẩm vai hoặc tay.
+ Khi có các triệu chứng toàn thân như sốt, rét run, vã mồ hôi vào ban đêm, sụt cân,… cần phải đặc biệt lưu ý loại trừ bệnh lý ác tính, nhiễm trùng.

b) Cận lâm sàng

- Xét nghiệm máu: Ít có giá trị chẩn đoán trong bệnh lý cột sống cổ và đĩa đệm gây chèn ép cơ học. Trong những bệnh như khối u, viêm, nhiễm trùng có thể thấy thay đổi trong một số xét nghiệm như tế bào máu ngoại vi, tốc độ máu lắng, CRP, phosphatase kiềm, điện di protein huyết thanh, v.v.

- Chụp X quang thường qui: Cần chụp tư thế trước sau, nghiêng và chếch 3/4. X quang có thể phát hiện những tổn thương cột sống cổ do chấn thương, thoái hóa, hẹp lỗ tiếp hợp, xẹp đốt sống do loãng xương, hủy xương do bệnh lý ác tính, v.v.

- Chụp cộng hưởng từ (MRI): MRI thường được chỉ định khi bệnh nhân đau kéo dài (>4-6 tuần), đau ngày càng tăng, có tổn thương thần kinh tiến triển, có biểu hiện bệnh lý tủy cổ, hoặc các dấu hiệu cảnh báo gợi ý bệnh lý ác tính hay nhiễm trùng.

- Chụp cắt lớp vi tính (CT Scan) đơn thuần hoặc kèm chụp tủy cản quang: Chụp CT đơn thuần có thể được chỉ định khi không có MRI hoặc chống chỉ định chụp MRI.

- Xạ hình xương: Khi nghi ngờ ung thư di căn hoặc viêm đĩa đệm đốt sống, cốt tủy viêm.

- Điện cơ: Có thể giúp phát hiện tổn thương nguồn gốc thần kinh và phân biệt bệnh lý tủy cổ với bệnh lý rễ và dây thần kinh ngoại biên.

3.2. Chẩn đoán phân biệt

- Bệnh lý khớp vai và viêm quanh khớp vai.

- Hội chứng lối ra lồng ngực, viêm đám rối thần kinh cánh tay, hội chứng đường hầm cổ tay.

- Hội chứng đau loạn dưỡng giao cảm phản xạ

- Bệnh lý tủy sống do viêm, nhiễm trùng, đa xơ cứng.

- Bệnh lý não, màng não, tim mạch, hô hấp, tiêu hóa gây đau vùng cổ vai hoặc tay.

4. ĐIỀU TRỊ

4.1. Nguyên tắc điều trị

- Điều trị triệu chứng bệnh kết hợp với giải quyết nguyên nhân nếu có thể.

- Kết hợp điều trị thuốc với các biện pháp vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và các biện biện pháp không dùng thuốc khác.

- Chỉ định điều trị ngoại khoa khi cần thiết.

4.2. Điều trị cụ thể

a) Các biện pháp không dùng thuốc

- Giáo dục bệnh nhân, thay đổi thói quen sinh hoạt, công việc (tư thế ngồi làm việc, sử dụng máy tính, …).

- Trong giai đoạn cấp khi có đau nhiều hoặc sau chấn thương có thể bất động cột sống cổ tương đối bằng đai cổ mềm

- Tập vận động cột sống cổ, vai, cánh tay với các bài tập thích hợp

- Vật lý trị liệu: Liệu pháp nhiệt, kích thích điện, siêu âm liệu pháp, xoa bóp bấm huyệt, châm cứu, kéo giãn cột sống (tại các cơ sở điều trị vật lý và phục hồi chức năng).

b) Các phương pháp điều trị thuốc

- Thuốc giảm đau: tùy mức độ đau, có thể dùng đơn thuần hoặc phối hợp các nhóm thuốc sau:
+ Thuốc giảm đau thông thường: Paracetamol viên 0,5-0,65g x 2-4 viên/24h (không dùng quá 3g paracetamol/24h).
+ Thuốc giảm đau dạng phối hợp: Paracetamol kết hợp với một opiad nhẹ như codein hoặc tramadol: 2-4 viên/24h.
+ Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID): Lựa chọn một thuốc thích hợp tùy cơ địa bệnh nhân và các nguy cơ tác dụng phụ. Liều thường dùng: Diclofenac 75-150 mg/ngày; piroxicam 20 mg/ngày; meloxicam 7,5-15 mg/ngày; celecoxib 100-200 mg/ngày; hoặc etoricoxib 30-60 mg/ngày. Nếu bệnh nhân có nguy cơ tiêu hóa nên dùng nhóm ức chế chọn lọc COX-2 hoặc phối hợp với một thuốc ức chế bơm proton.

- Thuốc giãn cơ
+ Thường dùng trong đợt đau cấp, đặc biệt khi có tình trạng co cứng cơ
+ Các thuốc thường dùng: Epirisone 50 mg x 2-3 lần/ngày, hoặc tolperisone 50-150 mg x 2-3 lần/ngày), hoặc mephenesine 250 mg x 2-4 lần/ngày, hoặc diazepam.

- Các thuốc khác
+ Thuốc giảm đau thần kinh: Có thể chỉ định khi có bệnh lý rễ thần kinh nặng hoặc dai dẳng, nên bắt đầu bằng liều thấp, sau đó tăng liều dần tùy theo đáp ứng điều trị: Gabapentin 600-1200 mg/ngày, hoặc pregabalin 150-300 mg/ngày.
+ Thuốc chống trầm cảm ba vòng (liều thấp): Amitriptyline hoặc nortriptyline (10-25 mg/ngày) khi có biểu hiện đau thần kinh mạn tính hoặc khi có kèm rối loạn giấc ngủ.
+ Vitamin nhóm B: Viên 3B (B1, B6, B12) hoặc dẫn chất B12 mecobalamin (1000 -1500 mcg/ngày).
+ Corticosteroid: Trong một số trường hợp có biểu hiện chèn ép rễ nặng và có tính chất cấp tính mà các thuốc khác ít hiệu quả, có thể xem xét dùng một đợt ngắn hạn corticosteroid đường uống (prednisolone, methylprednisolone) trong 1-2 tuần.

c) Điều trị ngoại khoa

- Một số chỉ định: Đau nhiều song điều trị nội khoa ít có kết quả, có tổn thương thần kinh nặng và tiến triển, có chèn ép tủy cổ đáng kể.

- Một số phương pháp phẫu thuật chủ yếu: Chỉnh sửa cột sống để giải phóng chèn ép thần kinh tại các lỗ tiếp hợp bị hẹp, lấy nhân nhày đĩa đệm thoát vị, làm dính và vững cột sống.

d) Các phương pháp khác

- Tiêm corticosteroid ngoài màng cứng hoặc tiêm khớp liên mỏm sau (facet) cạnh cột sống cổ: Có thể được chỉ định và thực hiện tại các cơ sở chuyên khoa.

- Các thủ thuật giảm đau can thiệp: Phong bế rễ thần kinh chọn lọc; điều trị đốt thần kinh cạnh hạch giao cảm cổ bằng sóng cao tần (radio frequency ablation, RFA).

5. TIẾN TRIỂN, BIẾN CHỨNG, THEO DÕI

- Tiên lượng nhìn chung là tốt nếu được điều trị thích hợp. Điều trị nội khoa bảo tồn có hiệu quả trong 80-90% trường hợp. Đa số bệnh nhân sẽ hết các triệu chứng sau khi được điều trị bảo tồn và ở một số bệnh nhân triệu chứng có thể hết một cách tự nhiên.

- Một số bệnh nhân dù được điều trị vẫn có thể còn những di chứng như không hết hoàn toàn các triệu chứng, vận động cột sống cổ không trở về mức độ bình thường, mất độ ưỡn tự nhiên của cột sống cổ. Những trường hợp chèn ép rễ hoặc tủy cổ nặng có thể gây rối loạn nặng cảm giác và vận động.

- Bệnh nhân cần được thăm khám định kỳ cho đến khi hết triệu chứng để đánh giá kết quả điều trị, điều chỉnh phương pháp điều trị nếu cần và để phát hiện các tổn thương thần kinh tiến triển nặng thêm hoặc các triệu chứng nặng khác nếu có.

6. PHÒNG BỆNH

- Cần duy trì tư thế đầu và cổ thích hợp trong sinh hoạt, công việc, học tập và các hoạt động thể thao, tránh những tư thế ngồi, tư thế làm việc gây gập cổ, ưỡn cổ hoặc xoay cổ quá mức kéo dài, tránh ngồi hoặc đứng quá lâu, chú ý tư thế ngồi và ghế ngồi thích hợp.

- Thực hiện các bài tập vận động cột sống cổ thích hợp để tăng cường sức cơ vùng cổ ngực và vai, cũng như tránh cho cơ vùng cổ bị mỏi mệt hoặc căng cứng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bono CM, Ghiselli G, Gilbert TJ, et al; “North American Spine Society. An evidence-based clinical guideline for the diagnosis and treatment of cervical radiculopathy from degenerative disorders”; Spine J. 2011;11(1):64-72.
2. Caridi JM, Pumberger M, and Hughes AP; “Cervical Radiculopathy: A Review”; HSS J. 2011; 7(3): 265–272
3. Douglass AB, Bope ET; “Evaluation and treatment of posterior neck pain in family practice”; J Am Board Fam Pract. 2004;17 Suppl:S13-22.
4. Gross A, Miller J, D'Sylva J, et al ; „Manipulation or mobilisation for neck pain. Cochrane Database Syst Rev”; 2010;(1):CD004249.
5. Guzman J, Haldeman S, Carroll LJ, et al; “Bone and Joint Decade 2000-2010 Task Force on Neck Pain and Its Associated Disorders. Clinical practice implications of the Bone and Joint Decade 2000-2010 Task Force on Neck Pain and Its Associated Disorders: from concepts and findings to recommendations”; Spine. 2008;33(4 Suppl):S199-213.

PGS. TS. Nguyễn Thị Ngọc Lan
Khoa Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Triệu chứng xuất hiện theo mùa

 Nhận biết được những triệu chứng xuất hiện lần đầu vào mùa nào trong ngày cơ thể ta khó chịu nhất , điều này sẽ giúp ta xác định bản chất và vị trí của bệnh . Đau tim và đau ruột non thường xuất hiện vào mùa hè hay gần trưa , xế trưa trong ngày . Những rối loạn liên quan đến tỳ, bao tử, tụy, và bạch cầu thường phát sinh suốt mùa hè và vào buổi chiều  mỗi ngày. Những rắc rối về phổi và ruột phát sinh vào mùa thu, khoảng giữa trưa đến xế chiều. Thận, bàng quang và những khó chịu ở cơ quan sinh sản thì đặc biệt thường thấy nhất vào mùa đông và vào lúc chiều tối hoặc đêm . Rối loạn ở mật và gan thường phát sinh vào mùa xuân và đặc biệt vào sáng sớm trong ngày. Tóm lại, tỉ lệ phát bệnh ung thư gia tăng trong mùa lạnh, ở mùa thu đến đầu đông, bởi sự tích luỹ quá mức vào mùa hè sẽ dẫn đến  hình thành khối u. Vào thời gian này trong năm, ung thư ở vú, da và những loại ung thư Âm tính xuất hiện bởi một khối lượng lớn do đường, thức uống không cồn, thực phẩm từ sữa đã tiêu thụ vào mùa hè. Ngược lại, vào mùa đông, người ta có hay ăn nhiều thịt, trứng và những thực phẩm thặng Dương gây ra những bệnh ung thư loại Dương tính. Vào mùa xuân ở những bộ phận như: ruột kết, gan, buồng trứng và tuyến tiền liệt. Dĩ nhiên, những điều này không phải là tuyệt đối, nhưng chúng có khuynh hướng chung. Bệnh ung thư có thể xuất hiện trong bất cứ hình thức đặc biệt nào và vào bất cứ thời gian nào trong năm. Y học hiện đại bắt đầu nghiên cứu về những ảnh hưởng của những giai đoạn trong chu kỳ 24 giờ với sức khỏe và bệnh tật. Chẳng hạn như các nhà nghiên cứu y khoa phát hiện rằng những cơn nhồi máu cơ tim hầu như có thể xuất hiện hai lần vào những giờ sau khi đi bộ. Chắc chắn chúng ta phải thấy rằng hệ tuần hoàn rất năng động vào buổi sáng vào giữa trưa. Lý do khác nữa là con người thời nay có xu hướng ăn bữa sáng là chính, họ lại chú ý vào món thịt lợn muối xông khói, trứng, giăm bông và những thực phẩm đông vật khác. Trong tình trạng Dương tính quá thặng, dễ có thể gây cơn nhồi máu cơ tim.

Tương tự, các nhà nghiên cứu báo cáo rằng phụ nữ với chúng ung thư vú sẽ đối diện với nguy cơ bệnh tái phát hay tử vong nếu họ giải phẫu gần với kỳ kinh nguyệt cao hơn 4 lần so với những phụ nữ giải phẫu vào giữa kỳ kinh, Vì trước kì kinh phụ nữ Dương tính hơn và vì thế, lẽ tự nhiên, để tạo sự cân bằng, phụ nữ dùng thức ăn nhẹ, ít thực phẩm động vật và ít gia vị hơn. Tuy nhiên, nếu họ ăn thịt, trứng, thịt gia cầm và những thức ăn Dương khác, họ sẽ thặng dư Dương tính (thường hay căng thẳng, cáu kỉnh, giận dữ…). Rồi để bù lại, họ bị thu hút bởi những thức ăn thặng Âm như đường, kẹo, chế phẩm sữa, rượu và nhiều thứ ngon miệng khác làm cơ thể họ yếu đi. Tóm lại, lượng đường và thịt ăn quá nhiều làm cho máu có chất acid. Trong tình trạng này, phẫu thuật vừa làm Dương hóa cao độ (gây sốc cơ thể) lại đồng thời Âm hóa (làm suy yếu vì ảnh hưởng thuốc mê, và xáo trộn năng lượng tự nhiên). Vì thế mà giải phẫu có thể dẫn đến nguy cơ tử vong, hay phát bệnh trở lại (đặc biệt, hệ thống bạch huyết đã bị suy yếu).

Theo qui luật, phụ nữ thải kỳ kinh vào độ trăng rằm, không chỉ riêng hình thức vừa kể, họ còn quay sang việc mua sắm nhiều hơn, tiêu xài tiền bạc, dọn dẹp, lau chùi nhà cửa, hay đi bác sĩ, nha sĩ. Trừ khi trực giác khiến họ ăn uống được thì họ vẫn có nguy cơ về sức khỏe do thái độ cực đoan của họ gây ra. Trực giác và phán đoán con người cao hơn cả một giàn máy tính hiện đại nhất. Về khía cạnh miễn dịch tự nhiên , số lượng tế bào lympho T để kiểm soát sự cân bằng giữa nhiễm trùng và khối u cao hơn trong mùa đông và hàng năm đều thấp vào tháng 6 . Một lần nữa nhấn mạnh rằng trong mùa đông , con người dùng nhiều thực phẩm động vật , điều này đủ tạo ra tình trạng thặng dương trong máu và hệ bạch huyết dẫn đến tăng tế bào lympho . Trong mùa đông và đầu mùa hè con người bắt đầu ăn nhiều thực phẩm tươi , hoa quả , đường , kẹo , đồ uống và những thực phẩm âm tính khác , tất dẫn đến máu và dịch cơ thể yếu hơn . Theo cách này , dựa trên sự hiểu biết về sự kết hợp giữa chế độ ăn và môi trương theo nguyên lý thống nhất âm dương . chúng ta có thể hiểu được chu kỳ và nhịp điệu của sức khỏe và bệnh tật .

Chúng ta có thể dùng nhiều yếu tố và phương pháp chuẩn đoán truyền thống để phát hiện ung thư trước khi nó phát triển hoặc nếu đã xuất hiện rồi thì trước khi nó lan tràn .Những phương pháp bổ sung gồm bắt mạch ở hai bàn tay và áp điểm trên da bằng năng lượng từ cao . Trái với y học hiện đại , chuẩn đoán cổ truyền không dùng đến kỹ thuật phức tạp và đắt tiền mà phương pháp đơn giản , phố biến và an toàn (??)  Giac' quan của chính chúng ta là công cụ để làm việc . Khi hiểu biết về thuật xem tướng phát triển thì  chúng ta nhận ra mỗi chúng ta là một cỗ máy riêng . Những gì chúng ta nghe, nhìn, ngửi, nếm và sờ vào được đều có thể cho ta biết về quá khứ, hiện tại và tương lại về một con người. Bên ngoài là phản ảnh bên trong và bên trong thể hiện ra  bên ngoài. Tìm hiểu được sự phát triển của một người sẽ dẫn ta đến sự hiểu biết vận mệnh của họ. Mỗi người đều tự bắt đầu bằng chính họ.

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

Quan điểm của Thực dưỡng về ung thư tiền liệt tuyến

Quan điểm của Thực dưỡng về ung thư tiền liệt tuyến
Hermain Sihara
Macrobiotic 11/12/1997

Cái gì gây nên ung thư tiền liệt tuyến?
Một trong những lý do khiến ung thư tiền liệt tuyến là sự thay đổi cấu trúc của tuyến tiền liệt. Phần lớn ở đàn ông và đàn bà việc đi tiểu thực hiện ở ống dẫn tiểu. ở đàn bà ống dẫn tiểu chỉ dài 1,5 inch (khoảng 3,8 cm) còn ở đàn ông thì dài tới 9 inch (khoảng 22, 9 cm). ống dẫn tiểu này đi ngay qua tuyến tiền liệt và các thành của tiền liệt tuyến mở ra với ống dẫn đái. Qua đó tuyến tiền liệt cung cấp các chất dịch và dinh dưỡng để nuôi tinh trùng trong tinh hoàn. Như vậy tiền liệt tuyến là nơi gặp gỡ của nước tiểu, các chất dinh dưỡng và các hóc môn sản sinh nuôi dưỡng tinh trùng. Do đó, nếu nước tiểu mang nhiều tính axit trong một thời gian dài, có thể sẽ gây nên ung thư tiền liệt tuyến. Hoạt động tình dục có thể gây nhiễm trùng cho ống dẫn nước tiểu làm cho nó bị sưng, và phá huỷ thành ống dẫn nước tiểu làm cho nước tiểu tràn vào gây phá hoại các tế bào tiền liệt tuyến.
Một lý do khác làm hư hỏng tiền liệt tuyến là ống tiểu có nhiều mạch máu giống như vú của phụ nữ vậy, nếu cơ thể có chỗ nào bị nhiễm trùng, vi trùng sẽ nhanh chóng theo mạch máu xâm nhập vào ống tiểu và tuyến tiền liệt. ở đây sẽ tạo nên một môi trường tốt cho vi trùng phát triển và dẫn đến ung thư - một khi các tế bào đó trở nên ác tính nó sẽ phát triển rất nhanh chóng do ăn nhiều đạm động vật và đường đơn.
Làm gì để điều trị ung thư tiền liệt tuyến
Sau đây là thực đơn điều trị: Ăn ít đạm động vật, ít đường, ít chất béo, tránh ăn thịt, trứng, gà, cá, đậu phụ, hoa quả, tóm lại là nên ăn uống theo macrobiotic. Nếu bạn bị ung thư tiền liệt tuyến, nên tránh ăn thịt, cá, ngoại trừ loại cá nhỏ (mỗi ngày chỉ ăn 2 miếng), chỉ ăn đậu 2 - 3 lần/ 1 tháng, tránh ăn đường sữa.
Nếu bạn bị yếu thận chỉ nên uống nước khi khát và dùng ít muối. Nên dùng gừng chườm thận 20 phút. Nên đi bộ chân đất trên cỏ vào buổi sáng, rất tốt cho thận. Nếu bạn tình của bạn bị nhiễm trùng bộ phận sinh dục, pha 3% muối loãngvào nước nóng để tắm sau khi sinh hoạt trong nửa tiếng. Bạn có thể ra biển tắm hoặc phơi nắng mỗi ngày 1 tiếng cho đến khi không còn bị nhiễm trùng.